Điều Lệ Hội Người Khuyết Tật Thành Phố Vũng Tàu

UBND THÀNH PHỐ VŨNG TÀU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HỘI NKT THÀNH PHỐ VŨNG TÀU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

ĐIỀU LỆ HỘI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

———-o0o———

 

 

Chương I

TÊN GỌI, TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH

Điều 1. Tên gọi:

“HỘI NGƯỜI KHUYẾT TẬT THÀNH PHỐ VŨNG TÀU”

Gọi tắt là: Hội Người khuyết tật. Viết tắt là: Hội NKT.

Điều 2. Tôn chỉ:

Hội NKT là một tổ chức quần chúng, xã hội từ thiện, nghề nghiệp của những người Thân thể tàn tật, nhưng tâm hồn lành mạnh; Có ý chí phấn đấu, lạc quan, yêu người, yêu cuộc sống. Được sự hỗ trợ của cộng đồng và những người đồng cảm, đoàn kết tương trợ để cùng vươn lên, hoà nhập công đồng, tôn trọng luật pháp, xứng đáng với danh  xưng “Tàn nhưng không phế” – Tốt cho bản thân, lợi cho gia đình, ích cho xã hội.

Điều 3. Mục đích:

Hội NKT là nơi để những người khuyết tật bày tỏ ý chí, tâm tư nguyện vọng của mình, tận tâm góp sức cùng các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, công đoàn, nhân dân … Tìm kiếm và phát huy hiệu quả của các nguồn hỗ trợ theo pháp luật, làm cho mọi người khuyết tật đều có cơ hội biết tri ân và đón nhận những tình thương, thông cảm và sự quan tâm giúp đỡ của mọi người, của những người đồng cảnh và của cộng đồng xã hội dành cho mình. Nhằm phấn đấu trau dồi nâng cao nhận thức, kỹ năng… để có đựơc nghề nghiệp và việc làm, gia đình hạnh phúc, phục hồi chức năng, mở rộng tấm lòng, tự tin hội nhập xã hội. Quan tâm phát hiện, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các tài năng, năng khiếu của những người “có tật có tài” có được cơ hội phát triển.

Điều 4:

  1. Hội hoạt động theo Điều lệ của Hội, dựa trên Hiến pháp và Pháp luật của nứơc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
  2. Kết nạp hội viên trên cơ sở tự nguyện, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nam nữ, thành phần, địa vị, nguồn gốc và nguyên nhân tật bệnh…
  3. Hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
  4. Có tư các pháp nhân, có biểu tượng, con dấu và tại khoản riêng tại Ngân hàng Việt Nam.
  5. Có trụ sở đặt tại số 160/33 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường Thắng Tam, Tp. Vũng Tàu.

Chương II

NHIỆM VỤ CỦA HỘI

Điều 5. Hội NKT có nhiệm vụ:

  1. Nâng cao nhận thức và kỹ năng: Vận động, khuyến khích, tư vấn, tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người khuyết tật có được cơ hội học tập, rèn luyện, tiếp cận giao lưu hội nhập cộng đồng nhằm từng bứơc nâng cao học thức, nhận thức và kỹ năng… hầu có được cuộc sống lành mạnh, lạc quan hữu ích, tích cực hơn.
  2. Chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng: Tích cực cổ động NKT hưởng ứng các chương trình nâng cao dân trí, thực hiện nếp sống văn hoá, các chương trình sinh hoạt y tế cộng đồng, phòng chống tai nạn, bệnh tật; rèn luyện cơ thể, luyện tập dưỡng sinh, thể dục, thể thao… Luôn quan tâm tuyên truyền, tư vấn và tổ chức thực hiện các kế hoạch chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và tạo điều kiện trợ giúp trang bị các dụng cụ phục hồi chức năng. Động viên an ủi, góp phần giúp họ sống khoẻ, sống vui, sống hạnh phúc.
  3. Khuyến công, hướng nghiệp, tạo nghề, tăng thu nhập: Tích cực tìm kiếm và tạo cơ hội để tư vấn, đào tạo, giới thiệu, tuyên truyền, tạo việc làm… giúp cho NKT có đựơc nghề nghiệp và việc làm thích hợp, tự lập về kinh tế, từng bứơc tự lo cho bản thân, giúp đỡ cho gia đình có có điều kiện tham gia làm việc công ích.
  4. Xây dựng, bảo vệ hạnh phúc gia đình: Luôn quyết tâm hoạt động vì cuộc sống và sống hạnh phúc của mọi người. Nhất là NKT, cô đơn, yếu kém… Mỗi hội viên luôn nêu cao tinh thần tích cực phấn đấu vươn lên, trong sự tương trợ của những người đồng cảnh ngộ và cộng đồng. Mà còn sẵn sàng chia sẽ giúp đỡ những người chung quanh, những người khó khăn hơn mình.

Hội NKT luôn quan tâm chăm lo xây dựng và bảo vệ mái ấm gia đình, nhất là hạnh phúc hôn nhân của NKT. Bởi gia đình là nền tảng của sự phát triển xã hội, là nguồn hạnh phúc trong cuộc sống… Thì với NKT, mái ấm gia đình lại càng quan trọng và bức thiết hơn hết, vì gia đình là điểm tựa an toàn và hiệu quả nhất. Mà trong cuộc sống NKT còn gặp rất nhiều “rào cản” và những trở ngại khó vượt qua trong việc kiến tạo hạnh phúc gia đình.

  1. Phát hiện và giúp đỡ tài năng: Tìm hiểu, phát hiện, bồi dưỡng, khuyến khích và tạo điều kiện cho tài năng có cơ hội phát huy, phát triển. Nhất là những người “có tật có tài”. Nêu cao tinh thần “Tàn nhưng không phế”, hội nhập thích nghi với hoàn cảnh. “Thuận theo môi trường, phát triển năng lực”.
  2. Hoà nhập cộng đồng, giúp ích xã hội, sẵn sàng làm việc nhân đạo: Chủ động tiếp cận, hoà đồng với mọi người. Thượng tôn luật pháp, nêu cao ý thức tập thể, sống và làm việc vì lợi ích chung của cộng đồng. Cổ động NKT tích cực tham gia công tác xã hội, các phong trào quần chúng: văn, thể, mỹ… Luôn sẵn sàng làm việc từ thiện, công ích. Nhiệt tình hợp tác với các tổ chức xã hội khác, nhất là các tổ chức nhân đạo, trong các hoạt động cứu trợ xã hội như: các tai nạn, bệnh tật, thiên tai, chiến tranh, dịch hoạ, tệ nạn xã hội v.v…
  3. Chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của Hội viên và mọi NKT yếu kém. Nhất là phụ nữ và trẻ em tàn tật. Tư vấn và đại diện cho họ trong những quan hệ, giao dịch v.v… Cũng như kịp thời phản ánh nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị với cơ quan hữu trách, các tổ chức, đơn vị liên quan nhằm kịp thời chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.
  4. Sẵn sàng làm Sứ giả hoà bình: Tất cả các Hội viên NTK luôn tích cực tình nguyện làm trung gian hoà giải mối bất hoà, tranh chấp…ở mọi nơi, mọi lúc mà NKT có thể biết và đến được.Với tất cả tấm lòng và ý thức trách nhiệm của một người “Tàn nhưng không phế”, luôn luôn yêu chuộng hoà bình, cộng đồng, bác ái, lạc quan, yêu người, yêu cuộc sống… Bằng chính sự tàn tật và đang nỗ lực phấn đấu vươn lên của mình.
  5. Mở rộng hợp tác và đón nhận những trợ giúp: Hội NKT mời gọi, tìm kiếm tiếp nhận và mở rộng hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế theo quy định của pháp luật. Nhằm trao đổi thông tin, kinh nghiệm và huy động hỗ trợ về tài chính, công nghệ, đào tạo, tư vấn… Đồng thời hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hội viên được trực tiếp quan hệ hợp tác theo luật định và sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ.
  6. Xây dựng, củng cố, phát triển Hội NKT: Nâng cao chất lượng cán bộ, hội viên, tuyên truyền vận động trong nhân dân, liên kết với các tổ chức bạn ở địa phương; thành lập các Chi hội, các Nhóm, Câu lạc bộ của NKT… Đẩy mạnh xã hội hoá Tôn chỉ, mục đích, lý tưởng, hoạt động của Hội.

Chương III

HỘI VIÊN

Điều 6:

Là những người “Tàn nhưng không phế”, những người bị tàn tật ở thân thể, nhưng có tâm hồn lành mạnh. Không phân biệt dân tộc, tôn giáo, chính kiến, địa vị, nam, nữ, thành phần, nguồn gốc và nguyên nhân tật bệnh… Thông thuộc, chấp nhận Điều  lệ và tự nguyện gia nhập Hội. Đã có thời gian tích cực tham gia các sinh hoạt Hội. Được Trưởng nhóm cùng một Hội viên có uy tín và thâm niên tuổi Hội bảo lãnh giới thiệu. Được Ban chấp hành Hội công nhận, thì trở thành Hội viên chính thức.

Điều 7:

Những người không bệnh tật nhưng có tấm lòng với người khuyết tật, có uy tín, tư cách, đạo đức tốt. Nhiệt tình và có công sức đóng góp hoặc thường xuyên tham gia sinh hoạt hỗ trợ Hội. Thông thuộc, tán thành Điều lệ và tự nguyện xin gia nhập Hội. Được Trưởng nhóm cùng hai thành viên có uy tín và thâm niên tuổi hội bảo lãnh giới thiệu, được tập thể chấp nhận mời vào nhóm NKT trực thuộc. Sau một thời gian tham gia công tác theo quy định, có thêm thành tích cụ thể, sẽ được Ban chấp hành Hội xem xét công nhận và mời làm Hội viên chính thức hoặc Hội viên danh dự, tán trợ.

Điều 8: Nghĩa vụ của Hội viên:

  1. Tôn trọng và thực hiện đầy đủ nội dung Điều lệ và các Nghị quyết của Hội.
  2. Thường xuyên tham gia các hoạt động và chấp hành sự phân công của Hội, cụ thể là thực hiện tốt các quy định, nội quy của Tổ, Nhóm trực thuộc. Phải có ý chí chiến đấu và ý thức trách nhiệm. Giữ vững đoàn kết, tôn trọng tuân thủ cấp trên, yêu thương chăm lo cấp dưới; Nếu không đồng ý hoặc chưa thể thực hiện đựơc việc đã phân công thì phải trình bày với các cấp trực thuộc hoặc cấp cao hơn, để có hướng giải quyết, không ỷ lại, biếng nhác, tiêu cực, tự ý bỏ ngang.
  3. Đóng hội phí đầy đủ và tích cực thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Hội và của Tổ, Nhóm trực thuộc.
  4. Tuyên truyền Điều lệ và các hoạt động của Hội, cổ động giới thiệu hội viên mới. Quan tâm chăm sóc giúp đỡ những NKT, những khó khăn, nhất là những người “Tàn nhưng không phế” để làm quen, giúp đỡ và từng bứơc giới thiệu lý tưởng Hội. Chú ý tìm kiếm, phát hiện NKT có tài năng, để giới thiệu với Hội, tạo điều kiện cho họ phát triển.
  5. Khuyến khích Hội viên tham gia vào nhiều tổ chức, hội đoàn xã hội hợp pháp khác, nhất là tham gia vào các Câu Lạc Bộ hoặc các nhóm NKT khác trong và ngoài Hội. Nhằm tạo điều kiện tăng thêm cơ hội và quyền lợi cho mọi thành viên, mở rộng vòng tay, tích cực hội nhập, xã hội hoá lý Hội. Nhưng phải có nghĩa vụ báo cáo với lãnh đạo việc tham gia của mình. Với yêu cầu là Hội viên ấy phải có khả năng hoàn thành các nhiệm vụ và thực hiện tốt các chức năng của mình đối với Hội, cũng như của các tổ chức ấy.
  6. Mỗi Hội viên phải luôn tích cực phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, giữ gìn đạo đức tác phong, trung thành với lý tưởng Hội. Siêng năng học tập, lao động và rèn luyện cơ thể, phục hồi chức năng, hoà nhập cộng đồng…

Điều 9: Quyền lợi của Hội viên:

  1. Được đề cử các đại biểu của mình, được ứng cử và bầu cử vào cơ quan lãnh đạo của Hội. Tham gia thảo luận, kiến nghị và biểu quyết về Điều lệ, nghị quyết, chương trình hoạt động của Hội, chất vấn những vấn đề có liên quan đến Hội. Có quyền xin ra khỏi Hội và chấm dứt tư cách Hội viên.
  2. Được cung cấp các thông tin các thông tin có liên quan đến các lĩnh vực hoạt động Hội.
  3. Được tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động của Hội. Như các chương trình chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng, giới thiệu, xin giúp các công cụ hỗ trợ như xe lăn, nạng nẹp, máy trợ thính v.v… Được tạo điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, giao lưu, sinh hoạt cộng đồng; Đựơc Hội hỗ trợ, đại diện bảo lãnh trong các quan hệ, giao dịch, kinh doanh, sản xuất và đời sống; Được tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, tư vấn, giới thiệu, giúp đỡ để học chữ, học nghề và vào các công ty, cơ sở, phân xưởng, các đơn vị sản xuất của Hội hoặc của các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài Hội.
  4. Được Hội bảo vệ những quyền lợi chính đáng, hợp pháp. Đựơc quan tâm chăm lo và tạo cơ hội để mở rộng quan hệ, giao lưu, tiếp xúc. Được tư vấn, trung gian trợ giúp hoặc đấu tranh trong việc xây dựng và bảo vệ mái ấm gia đình, nhất là hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân NKT.
  5. Được quan tâm tìm hiểu, khuyến khích tạo điều kiện và vận động hỗ trợ thực hiện các ý tưởng, đề án khả thi hoặc tạo việc làm tại chỗ tùy theo sức khoẻ, khả năng và hoàn cảnh của từng Hội viên, của Tổ, Nhóm và quỹ Hội. Với phương châm, “Tạo điều kiện cho tài năng phát triển, để hai bên cùng có lợi, xã hội được hưởng lợi”.

Điều 10: Thể thức ra Hội, vào Hội.

  1. Thể thức vào Hội: Như Điều 6 và Điều 7 đã nêu: Sau khi đã thông thuộc chấp nhận Điều lệ của Hội và đã được mời tham gia hoạt động Hội hoặc sinh hoạt với Nhóm trực thuộc đến 3 lần. Phải làm đơn tự nguyện xin gia nhập Hội và 2 bản sơ yếu lý lịch có dán hình, có xác nhận của địa phương hoặc đơn vị, cá nhân bảo trợ; đựơc Trưỡng Nhóm trực thuộc và Hội viên thâm niên tuổi Hội bảo lãnh giới thiệu; Đựơc Ban chấp hành Hội công nhận với nghi thức kết nạp và cấp thẻ Hội viên, thì trở thành Hội viên chính thức.
  2. Thể thức ra Hội: Để minh bạch và bảo đảm quyền lợi, cần làm đơn xin ra Hội hoặc tạm ngưng sinh hoạt Hội với thời gian và lý do cụ thể; có xác nhận của Chi hội trực thuộc đã giải quyết thoả đáng mọi thắc mắc về quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến Hội viên ấy. Thì sẽ được Ban chấp hành Hội xem xét khen thưỡng các công lao đã đóng góp, tham gia sinh hoạt Hội trong thời gian qua. Các trường hợp tự ý nghỉ, hay liên tục không tham dự 5 cuộc họp định kỳ, hoặc vi phạm quy định của Nhóm trực thuộc. Thì mặc nhiên đã bị bãi nhiệm tư cách Hội viên và thẻ Hội viên của người ấy cũng bị mất hiệu lực, có thông báo của Hội và địa phương.
  3. Thẻ hội viên có thời gian hiệu lực là 5 năm, sau đó sẽ được tiến hành thủ tục xem xét tư cách Hội viên và cấp thẻ mới hoặc nâng bậc thẻ Hội. Thể thức vào Hội, ra Hội sẽ linh hoạt tuỳ theo nội quy, quy chế riêng của mỗi Nhóm NKT, theo Khoản 3 Điều 11, nhưng không ra ngoài khuôn khổ của Điều lệ Hội NKT cũng như luật pháp nhà nước.

Chương VI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI

Điều 11: Hội NKT được tổ chức:

1- Hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyết định theo đa số. Làm việc theo chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

2- Hội có các Chi Hội và các Nhóm hoặc Câu lạc bộ. Đựơc hình thành phân cấp theo địa lý và dân số, tùy theo tình hình thực tế và đựơc chấp nhận, hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương.

Điều 12: Đại hội đại biểu:

Đại hội đại biểu là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội đựơc tổ chức 3 năm một lần. Đại hội quyết định phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hoạt động và tổ chức Hội trong nhiệm kỳ, sửa đổi, bổ sung và thông qua điều lệ, đề ra quy chế khen thưởng, kỷ luật, bầu ra Ban chấp hành Hội.

Đại hội bất thường chỉ tiến hành khi có vấn đề quan trọng và có trên 50% số Hội viên hoặc có 2/3 số Uỷ viên Ban chấp hành đề nghị triệu tập.

Điều 13: Ban chấp hành Hội:

1- Ban chấp hành Hội là cơ quan lãnh đạo của Hội giữa hai kỳ Đại hội. Số lượng Uỷ viên Ban chấp hành Hội do Đại hội quyết định.

– Ban chấp hành Hội họp thường kỳ một năm hai lần. Việc triệu tập họp bất thường do Chủ tịch Hội xem xét quyết định trên cơ sở đề nghị của Thường trực Ban chấp hành Hội.

2- Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban chấp hành Hội.

– Lãnh đạo, tổ chức thực hiện chương trình hành động cũng như các Nghị quyết của Đại hội.

– Bầu Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Thư ký, các Uỷ viên thường trực Ban chấp hành Hội.

– Xem xét, quyết định bổ sung uỷ viên vào Ban chấp hành Hội trên cơ sở căn cứ theo nhu cầu sự phát triển của Hội. Số uỷ viên bổ sung không quá 1/3 số uỷ viên do Đại hội bầu ra.

– Xem xét, kỷ luật bãi nhiệm uỷ viên nào không tuân thủ Điều lệ, quy chế, phạm vi kỷ luật.

Sau khi đã nhận được kết luận của Ban kiểm tra và ý kiến của 2/3 số uỷ viên, hoặc của Chủ tịch.

– Thành lập Ban kiểm tra.

– Xét công nhận hội viên mới theo quy định của Điều lệ.

– Ra quyết định khen thưởng và kỷ luật.

Điều 14: Thường trực Ban chấp hành Hội

Thường trực Ban chấp hành Hội do Ban chấp hành Hội bầu ra, gồm: Trưởng ban, các Phó trưởng ban, thư ký và một số uỷ viên Thường trực Hội.

Thường trực Ban chấp hành Hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

  1. Thay mặt Ban chấp hành Hội điều hành trực tiếp các hoạt động thường xuyên của Hội.
  2. Hướng dẫn thực hiện Điều lệ và các Nghị quyết của Ban chấp hành Hội.
  3. Quan hệ với các cơ quan, các tổ chức trong nước và các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
  4. Chỉ đạo các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trực thuộc văn phòng của Hội hoạt động hợp pháp theo luật định.
  5. Thường trực Ban chấp hành Hội họp theo thường kỳ 3 tháng một lần để đánh giá việc thực hiện các kế hoạch hoạt động của Hội, chuẩn bị cho các cuộc họp thường kỳ và bất thường của Ban chấp hành Hội.

Điều 15:

– Chủ tịch là người đại diện pháp nhân của Hội, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Hội và Thường trực Ban chấp hành Hội là người quyết định sau cùng.

– Chủ tịch có nhiệm vụ và quyền hạn triệu tập trụ trì các kỳ họp của Ban chấp hành Hội và Thường trực Ban chấp hành Hội là người ra quyết định sau cùng.

– Các Phó chủ tịch là người giúp Chủ tịch, được Chủ tịch phân công phụ trách từng phần công việc và được uỷ quyền điều hành công việc của Ban chấp hành Hội khi Chủ tịch vắng mặt.

Điều 16: Chánh văn phòng Hội

Chánh văn phòng Hội là người đựơc Chủ tịch Hội uỷ quyền điều hành công việc hàng ngày và triển khai thực hiện các chương trình, nội dung công tác đã được Chủ tịch và Ban chấp hành Hội thông qua. Chánh văn phòng Hội có thể do Chủ tịch uỷ nhiệm.

Quyền hạn và nhiệm vụ của Chánh văn phòng:

1- Thay mặt thường trực Ban chấp hành Hội xử lý các công việc hành chính, điều hành hoạt động hằng ngày của các cơ quan, ký các văn bản do Chủ tịch uỷ nhiệm.

2- Chuẩn bị chương trình và nội dung các kỳ họp của Ban chấp hành Hội và thường trực Ban chấp hành Hội.

Điều 17: Ban kiểm tra Hội

Ban kiểm tra do Ban chấp hành Hội bầu ra gồm: Trưởng ban, Phó trưởng ban và các uỷ viên. Ban kiểm tra họp 3 tháng một lần và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chấp hành Hội.

Ban kiểm tra có những nhiệm vụ sau đây:

  1. Giám sát, kiểm tra việc thực hiện Điều lệ và các Nghị quyết của Đại hội.
  2. Kiểm tra thu, chi tài chính và sử dụng tài sản của Hội theo quy định hiện hành.
  3. Xem xét và xử lý các đơn thư, khiếu naị, tố cáo liên quan đến Hội.
  4. Kiểm tra việc thi hành kỷ luật của tổ chức cấp dưới.
  5. Trường hợp kiểm tra 1 uỷ viên Ban chấp hành cùng cấp, phải đựơc sự uỷ nhiệm của Ban chấp hành cấp đó.
  6. Ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể, trung thực, có trách nhiệm.

Điều 18: Văn phòng Hội

Hội có văn phòng giúp việc do Chánh văn phòng Hội phụ trách, và một số nhân viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, ưu tiên nhận Người tàn tật.

Chương V

TÀI CHÍNH VÀ TÀI SẢN CỦA HỘI

Tài sản và tài chính của Hội do Hội quản lý sử dụng, theo Điều lệ Hội và quy định của pháp luật.

Điều 19: Nguồn tài sản và tài chính của Hội gồm có:

  1. Đóng góp tự nguyện của các Hội viên và nhà hảo tâm
  2. Hội phí của Hội, thu theo đơn vị Chi hội, tổ, nhóm. Thường trực Ban chấp hành Hội quy định, trên tinh thần tương trợ Nghị quyết của Đại hội.
  3. Thu từ các hoạt động văn hoá, quyên góp, trích lợi nhuận của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…trực thuộc Văn phòng Hội đựơc thành lập theo quy định của pháp luật.
  4. Hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức kinh tế – xã hội, các tổ chức và cá nhân hảo tâm trong và ngoài nước.
  5. Thu tiền lãi từ các khoản tài chính gửi ngân hàng, tín phiếu, trái phiếu…
  6. Thu từ thực hiện các chương trình, dự án… được nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế, xã hội hợp pháp giao cho.
  7. Xin hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước dành cho các hoạt động đựơc các cấp chính quyền cho phép.
  8. Các khoản thu nhập hợp pháp khác.

Điều 20: Những khoản chi chủ yếu:

  1. Chi cho các trường hợp cứu trợ khẩn cấp, cần thiết và trực tiếp cho các Hội viên có hoàn cảnh đặc biệt, ưu tiên phụ nữ và trẻ em tàn tật.
  2. Chi cho công tác tuyên truyền, huấn luyện và hỗ trợ các chương trình của Hội, nhằm nâng cao học vấn, kỹ năng, nghiệp vụ… cho cán bộ, hội viên NKT.
  3. Hỗ trợ các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, cung cấp dụng cụ phục hồi chức năng cho NKT.
  4. Biện pháp biên soạn và phát hành các tài liệu, ấn phẩm của Hội.
  5. Chi phí cho các hoạt động phục vụ và các kỳ họp của Hội. Các chương trình mà Hội tham gia. Cho công tác tuyên truyền vận động gây quỹ phát triển Hội.
  6. Chi cho các dự án phát triển cơ sở phục vụ của Hội về sản xuất, hướng nghiệp, tư vấn, hỗ trợ pháp luật, kinh doanh, dịch vụ, giới thiệu và tạo việc làm cho NKT… trực thuộc Văn phòng Hội.
  7. Chi cho khen thưởng, động viên và các khoản chi khác, theo quyết định của Ban chấp hành Hội.

Chương VI

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

 Điều 21: Khen thưởng:

Những hội viên, đơn vị hoặc cá nhân có thành tích xuất sắc, công tác liên tục nhiều năm, hoặc đóng góp hiệu quả cho hoạt động và sự phát triển của Hội. Được Hội tri ân, khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan cấp trên khen thưởng.

Các hình thức khen thưởng của Hội là: Huy chương “Vì sự nghiệp phát triển Hội NKT, các loại “Bằng tri ân”, “Bằng khen” của các cấp Hội. Các bậc “Thẻ màu tuổi Hội” tương ứng với các công lao hoặc thâm niên tuổi Hội.

Điều 22: Kỷ luật

Đơn vị, cá nhân hội viên hoặc cán bộ nào vi phạm điều lệ, làm trái chủ trương, Nghị quyết của Đại hội. Lợi dụng chức năng, quyền hạn của làm ảnh hưởng đến uy tín, thiệt hại cho Hội, gây chia rẽ mất đoàn kết. Hoặc thiếu nhiệt tình, không tham gia sinh hoạt công tác, từ bỏ vị trí mà chưa có sự đồng ý của các cấp trực thuộc…  thì phải chịu hình thức kỷ luật từ nhắc nhở, khiển trách, cảnh cáo, cách chức đến thông báo toàn Hội và địa phương, khai trừ khỏi Hội và có thể đưa ra trứơc pháp luật.

(Quy chế khen thưởng, kỷ luật cùng các quyền lợi tương ứng, do Đại hội đại biểu thông qua).

Chương VII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 23: Điều lệ này gồm 7 chương, 23 điều. Có hiệu lực kể từ ngày Đại hội đại biểu nhất trí thông qua và được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Điều 24: Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ do Đại hội đại biểu các Hội viên của Hội quyết định.

Điều 25: Tất cả các Hội viên có trách nhiệm thực hiện và tuyên truyền giới thiệu đầy đủ Điều lệ của Hội. Ban chấp hành Hội có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Điều lệ này.

Bài viết kế tiếp

Quyết Định Thành Lập Chi Hội

       UBND TP. VŨNG TÀU                 …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Về Đầu Trang